Tại sao chúng ta hay trì hoãn công việc?
Trì hoãn không phải là lười biếng mà là một cách điều chỉnh cảm xúc: khi nghĩ tới một việc gây khó chịu như nhàm chán, áp lực hay sợ làm không tốt, não lập tức tìm cách né cảm giác đó bằng việc chuyển sang làm gì khác dễ chịu hơn. Cảm giác nhẹ nhõm này đến ngay tức khắc, còn hậu quả của việc trì hoãn (bị trễ hạn, dồn việc) thì nằm ở tương lai nên có vẻ ít đáng sợ hơn tại thời điểm quyết định.
Cốt lõi là hiện tượng thiên vị hiện tại, tức xu hướng coi trọng phần thưởng hay cảm giác dễ chịu trước mắt hơn hẳn lợi ích lớn hơn ở tương lai. Vùng não phụ trách cảm xúc và tìm khoái cảm tức thời thường thắng thế trước vùng vỏ não trước trán phụ trách lập kế hoạch dài hạn, nhất là khi công việc gắn với cảm giác đe doạ như sợ thất bại hay cầu toàn. Càng cảm thấy việc đó khó, mơ hồ hoặc dễ bị đánh giá, não càng có xu hướng đẩy nó ra xa để giảm lo âu ngay lập tức, dù về lý trí ta biết trì hoãn sẽ khiến mọi thứ tệ hơn.
Một sinh viên được giao viết luận từ đầu tháng nhưng cứ để tới đêm trước ngày nộp mới bắt tay vào làm. Ban đầu, mỗi lần nghĩ tới bài luận, cảm giác chán nản hay sợ viết dở khiến việc lướt điện thoại trở nên hấp dẫn hơn hẳn, và não chọn niềm vui tức thì đó. Chỉ khi deadline cận kề tới mức nỗi sợ trễ hạn lớn hơn cả sự khó chịu của việc viết, sinh viên mới đủ động lực ngồi vào bàn, thường trong trạng thái căng thẳng và vội vã.
Nhiều người nghĩ trì hoãn là do lười hoặc thiếu ý chí, nên tự trách bản thân rất nặng nề. Thực ra trì hoãn là một cách quản lý cảm xúc kém hiệu quả chứ không phải vấn đề đạo đức, và người hay trì hoãn thường lo âu, tự ti nhiều hơn là thiếu cố gắng. Vì vậy giải pháp hữu ích không phải là ép bản thân bằng ý chí, mà là chia nhỏ việc và giảm cảm giác đe doạ của nó xuống mức não không còn cần né tránh nữa.
Nội dung mang tính tham khảo. Vấn đề sức khoẻ, tài chính, chính trị hãy hỏi ý kiến chuyên gia.
